
Thai giáo có ý nghĩa gì đối với người mẹ
Dù cho khoa học - công nghệ có phát triển đến đâu, dù xã hội có văn minh đến thế nào đi chăng nữa thì sinh con vẫn là thiên chức của người mẹ và thai giáo có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành nhân cách đứa trẻ sau này. Đó là điều mà nhiều người đã trải nghiệm và chứng minh. Ở nước ta, trong các tác phẩm “Gia huấn ca” (Nguyễn Trãi), “Phụ đạo xán nhiên”, “Tọa thảo lương mô” (danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác) cũng ghi lại nhiều điều nói về phép giáo dưỡng thai nhi. Danh y Tuệ Tĩnh trong tác phẩm “Nam dược thần hiệu” viết rằng: “Âm dương hòa hợp thì muôn vật sinh, tinh huyết giao cảm thì thai nghén lành… Phàm động vật lúc mới thai nghén cũng giống như thực vật kết hột, cốt được yên lặng ôn hòa thì mới thành được quả… Lấy lai lịch loài người mà nói, thì phép dưỡng thai rất quan trọng, thời kỳ mang thai là rất quan hệ… Cho nên trong lúc thai nghén cần và phải giữ gìn điều dưỡng, không nên xem thường”. Xung quanh ta, ngoài Trung Quốc thì Nhật Bản cũng là nước rất xem trọng thai giáo và phổ biến thai giáo cho toàn dân từ xa xưa. Ở Nhật Bản, các bà mẹ tương lai được sống trong những ngôi nhà chung, đặc biệt tại những nơi có phong cảnh đẹp. Ở đó mẹ và đứa trẻ sắp ra đời được những người phụ nữ có chuyên môn bồi dưỡng về thẩm mỹ và âm nhạc. Còn ở một số nước châu Phi từ thời xa xưa cho đến ngày nay, người ta vẫn cho phụ nữ mang thai tập những vũ điệu chuyên dụng và các bài vận động nhịp nhàng. Trong khi đó, ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp chẳng hạn… cũng có nhiều trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thai giáo. Tại Mỹ, năm 1977, đã thành lập một trường đại học đặc biệt chuyên hướng dẫn thai phụ cách giáo dục thai nhi. Vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ trước, Học viện Sức khỏe Y tế Paris cũng đã làm thí nghiệm về thai giáo. Qua đó, chúng ta thấy rằng, dù là Đông hay Tây cũng đều coi trọng việc dạy con từ trong bụng mẹ. Có lần gặp Giáo sư Trần Văn Khê trong buổi nói chuyện về “Thai giáo và tác dụng của hát ru đối với thai nhi” do Hội Quán các bà mẹ tổ chức. Lần ấy, tôi được nghe kể câu chuyện về chính gia đình ông: “Có lẽ nhờ tiếng sáo của cậu năm, tiếng đàn kìm của ba, tiếng đàn Tỳ Bà của ông nội và tiếng đàn tranh của cô ba từ lúc tôi còn là thai nhi đã giúp tôi thấm nhuần và tràn ngập tình yêu đối với âm nhạc dân tộc Việt Nam. Lúc lên 2 tôi đã biết nhảy nhịp theo tiếng đàn của ông nội, lên 6 tuổi đã biết đàn kìm, lên 8 tuổi đã biết đàn cò, 12 tuổi biết đàn tranh và 14 tuổi biết đánh trống nhạc. Và cho đến mãi sau này, tình yêu âm nhạc dân tộc vẫn luôn chảy tràn trong huyết quản đã tiếp tục giữ tôi trên con đường học hỏi, luyện tập, biểu diễn, sưu tầm, phổ biến và phát huy âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam”. Có lẽ vì thế mà ông cha ta từ xưa có câu “con vào dạ, mạ đi tu”, câu nói này vẫn đúng trong mọi thời. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho rằng: “Mạ là mẹ. Con vào dạ, mạ đi tu là khi “cấn thai” vào lòng tự nhiên người mẹ nào cũng… “đi tu”. Đi tu ở đây không có nghĩa là xuống tóc, vào chùa gõ mõ tụng kinh mà chỉ có nghĩa là sửa mình, thay đổi mình, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Mọi thứ ở người mẹ phải sửa sang, phải “tu chỉnh”, nên mới có câu “con vào dạ, mạ đi tu”. Dù rằng, sửa mình là không dễ. Nhưng một khi có “con vào dạ” rồi thì tự dưng phải sửa thôi. Thực ra, không chỉ “mạ đi tu”, mà người cha cùng cả nhà đi tu với mạ! Vì thế mà dân gian có câu ca dao: “Sinh con rồi mới sinh cha/ Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”.









